Ở LẠI
Ở LẠI
Nếu rồi ai cũng đi làm, kiếm tiền, già đi và biến mất, thì tại sao tôi phải chạy nhanh đến thế?
Tôi tốt nghiệp vào một ngày tháng Sáu oi bức. Nóng đến mức những tán cây trong sân trường cũng lười lay động khi gió hầm hập thổi qua.
Ba ngày sau lễ tốt nghiệp, Hà - cô bạn thân nhất của tôi - đã được nhận vào một công ty kiểm toán. Một tháng sau, lần lượt trên mạng xã hội hiện lên những dòng thông báo của bạn bè cùng lớp về công việc mới. Hai tháng sau, đến người có thành tích tệ nhất lớp cũng vào được một ngân hàng ở thành phố cậu ấy sống. Chỉ có tôi là không.
Tôi là sinh viên tốt nghiệp xuất sắc nhất khóa. Nhưng tôi không hiểu vì sao suốt gần ba tháng, tôi không nhận được lấy một email hay một cuộc gọi phỏng vấn nào. Tôi sửa hồ sơ, sửa CV, viết lại thư xin việc. Không biết bao nhiêu lần. Tôi tìm đến các anh chị đi trước, tìm đến thầy cô trong trường, nhờ họ góp ý rồi sửa sai. Không biết bao nhiêu lần. Mười hồ sơ. Hai mươi hồ sơ. Hơn ba mươi hồ sơ. Tôi nghĩ mình đã nộp đơn cho gần như mọi công ty tuyển dụng chuyên ngành tôi học ở Hà Nội.

Ngay cả những lá thư từ chối soạn sẵn bằng giọng điệu lịch sự cũng chẳng buồn đến. Có lúc tôi nghi ngờ rằng có lẽ mình gõ nhầm địa chỉ email tuyển dụng. Thế nhưng, bất cứ nơi nào để số điện thoại, tôi đều gọi điện xác nhận. Họ chỉ nói đã nhận được hồ sơ rồi vội cúp máy. Những bộ hồ sơ của tôi cứ thế rơi vào một khoảng không vô định rồi biến mất cùng mọi sự cố gắng.
Mỗi sáng tôi tỉnh dậy lúc bảy giờ, dù chẳng có nơi nào để đến, chẳng có việc gì hệ trọng phải làm. Việc đầu tiên là mở hộp thư. Trống rỗng. Sau đó, tôi lướt các trang tuyển dụng, đọc những bản mô tả yêu cầu hai năm kinh nghiệm cho một vị trí thực tập, năm kỹ năng chuyên môn cho một công việc trả lương còn không đủ tiền thuê nhà. Vậy mà tôi vẫn bấm nút ứng tuyển.
Buổi trưa, mẹ hỏi:
"Có chỗ nào gọi chưa?"
Tôi lắc đầu.
Buổi tối, bố hỏi:
"Hôm nay con gửi được mấy hồ sơ?"
Tôi nói bốn.
"Cố thêm đi. Đừng kén chọn quá."
Tôi không rõ mình đã kén chọn điều gì. Tôi nộp đơn cả những công việc mình không hiểu rõ, cả những nơi cách nhà mười mấy cây số. Bạn bè nhắn tin hỏi thăm. Ban đầu tôi còn trả lời rằng tôi đang tìm việc, đang cân nhắc vài cơ hội, đang dành thời gian xác định hướng đi. Giờ, tôi cũng đã thôi hồi đáp những tin nhắn ấy. Tôi tắt hết thông báo mạng xã hội. Tôi không muốn nhìn thấy những dòng tin tức từ bạn bè đăng tải. Những tòa nhà văn phòng bằng kính. Những bó hoa chúc mừng. Những chiếc máy tính xách tay mới và những cốc cà phê đặt cạnh tấm thẻ nhân viên. Tôi biết cuộc sống của họ không hẳn dễ dàng. Nhưng ít ra ai cũng có vẻ là đang tiến về phía trước. Chỉ mình tôi đứng yên. Giống như một người ngủ quên trên sân ga, tỉnh dậy thì chuyến tàu cuối cùng đã rời đi từ lâu.
Rồi sự nghi ngờ dần bủa vây. Tôi nghi ngờ ngành học đã chọn; nghi ngờ những cuốn sách từng đọc, những giấc mơ từng có, những điều tôi vẫn tin mình làm tốt. Và tôi nghi ngờ cả bản thân. Có lẽ tôi không đủ giỏi. Có lẽ tôi đã đánh giá quá cao chính mình. Dường như suốt hai mươi hai năm, tôi chỉ đi trong một hành lang được thắp sáng vừa đủ để không nhận ra rằng ở cuối hành lang chẳng có cánh cửa nào cả. Màn đêm buông xuống, những câu hỏi bắt đầu len lỏi. Chúng không đến cùng lúc. Chúng luồn ra từng chút một, như đàn kiến chui qua khe nứt trên tường, rồi bâu kín lấy tâm trí tôi.
Tôi là ai? Tôi muốn gì? Tôi đang cố gắng vì điều gì?
Nếu rồi ai cũng đi làm, kiếm tiền, già đi và biến mất, thì tại sao tôi phải chạy nhanh đến thế? Nếu tôi không trở thành người bố mẹ mong đợi, tôi còn là một đứa con tốt không? Nếu tôi không tìm được công việc phù hợp, những năm tháng đã qua có trở thành vô nghĩa không?
Tôi nằm trên giường, nghe tiếng kim đồng hồ nhích đều trong bóng tối. Mỗi tiếng tích tắc như một giọt nước rơi xuống chiếc cốc đã đầy tràn. Tôi không ngủ được, nhưng cũng không thực sự tỉnh táo. Tôi chỉ nằm đó, mắc kẹt giữa một quá khứ không thể quay lại và một tương lai không thể nhìn thấy. Mọi thứ quanh tôi trở nên mờ nhạt, mơ màng. Tôi thấy mình đang sống trong một giấc mơ rất xa, như một đám mây cứ trôi mãi trên trời mà chẳng có bến đỗ. Không còn thời khóa biểu. Không còn bài kiểm tra. Không còn ai nói cho tôi biết tuần sau phải làm gì. Không có sự ràng buộc nào cả. Cảm giác tự do sau khi tốt nghiệp khiến tôi choáng ngợp.
Rốt cuộc tôi đang sống vì điều gì? Vì gia đình, vì bản thân, vì để học, vì để trải nghiệm? Và nếu thật sự có một con đường dành riêng cho mỗi người, tại sao mãi tôi không tìm thấy con đường của mình?
Một buổi sáng, sau khi nghe câu Có chỗ nào gọi chưa? lần thứ không biết bao nhiêu, tôi gập máy tính lại. Cho hai bộ quần áo vào ba lô, thêm một cuốn tiểu thuyết đọc dở từ mùa hè năm ngoái, một bàn chải đánh răng, tôi đeo lên cổ chiếc vòng may mắn bà ngoại tặng nhiều năm trước. Tôi nói với mẹ rằng tôi sẽ đi Cát Bà vài ngày.

Mẹ nhìn tôi như thể tôi vừa thông báo mình sẽ rời khỏi Trái Đất.
"Đang lúc tìm việc lại đi chơi?"
"Con không đi chơi."
"Thế con đi làm gì?"
Tôi không trả lời được.
Tôi chỉ biết nếu ở lại thêm một ngày, tôi sẽ lại ngồi trước màn hình, lại bấm nút tải lại hộp thư, lại đọc hàng nghìn dòng tin tuyển dụng. Tôi không chịu nổi nữa cái cảm giác lặp lại, bí bách, không có lối thoát ấy. Tôi bướng bỉnh cãi lời mẹ để đi, vì tôi tin rằng chỉ cần bước ra khỏi cánh cửa này, ít nhất sẽ có một điều gì đó thay đổi.
Trớ trêu thay, chuyến đi chẳng hề mới mẻ như tôi tưởng. Tôi chỉ đủ tiền thuê một căn phòng nhỏ trong thị trấn với chiếc cửa sổ nhìn thẳng vào bức tường của khách sạn bên cạnh. Ban đêm tôi nghe tiếng nước chảy trong đường ống, tiếng kéo vali ngoài hành lang, tiếng khóc của trẻ con tầng dưới. Ngày đầu tiên, trời mưa rất to trên đảo. Tôi ngồi trong phòng nhìn những giọt nước trườn xuống vách kính đầy mảng bám, ăn một hộp mì tôm và tự hỏi tại sao mình lại đến đây. Cuốn tiểu thuyết vẫn nằm trong ba lô. Tôi chưa mở ra lần nào. Tôi mong mỏi mãi một sự thay đổi dù là nhỏ bé. Tôi tưởng chỉ cần đến một vùng đất mới, những câu hỏi trong đầu sẽ tự tan đi. Chỉ để nhận ra chúng vẫn ở rịt trong tâm trí. Chúng đi phà cùng tôi, ngồi phía sau xe buýt và bám theo tôi vào tận phòng trọ. Cảm giác bức bối thậm chí còn tệ hơn. Vì tôi đã tiêu cả mớ tiền trong khoản tiết kiệm eo hẹp chỉ để thấy tệ y như ở nhà, nhưng tại một nơi khác.

Sáng hôm sau, mưa tạnh. Bầu trời vẫn xám xịt, ủ rũ. Những khối mây khổng lồ cuộn lên phía trên thị trấn, như những chiếc bao chứa đầy nắng bị buộc chặt miệng. Tôi thuê một chiếc xe máy cũ, đổ đầy bình xăng, rồi chạy ra khỏi khu dân cư. Không có điểm đến. Tôi chỉ muốn lái xe đi loanh quanh, hít chút khí biển cho khuây khỏa. Con đường dần hẹp lại, xuyên qua những dãy núi đá phủ xanh. Hai bên đường, hai vách đá dựng đứng, lạnh lùng và trầm mặc như thể chúng đã đứng đó từ trước khi con người biết đặt tên cho nỗi buồn.
Tôi đi ngày một sâu vào giữa những dãy núi dài. Không tiếng người. Không tiếng xe. Không cả tiếng chim hay tiếng thú. Chỉ có lâm râm tiếng kêu của một loài côn trùng lạ, đều đặn và dai dẳng, át cả tiếng ve. Âm thanh ấy phủ lên cánh rừng xung quanh, khiến tôi miên man thấy mình như đang đi xuyên qua một vùng đất không thuộc về thời gian này. Phía trước là đồi núi trập trùng. Những rặng núi tiến gần rồi lùi xa sau mỗi khúc cua. Xe lên dốc, xuống dốc. Chốc chốc, tôi lại bắt gặp những khoảnh thung lũng xanh rì nằm im dưới chân núi nhấp nhô.
Nắng mãi chưa ló rạng. Chỉ có thứ ánh sáng bạc nhược bị nghiền nát thành vụn ngọc đọng lại trên tảng mây dày. Trời lặng gió, nhưng cái lạnh của rừng nguyên sinh vẫn xuyên qua lớp áo mỏng, thẩm thấu qua da. Tôi không giảm tốc. Tay giữ ga đều. Tôi buông tay trái khỏi tay lái. Tà váy quật đỏ hai bắp đùi. Chiếc vòng trên cổ được gió khẽ nâng lên, rồi đập xuống xương ức. Gió siết lấy cánh tay tôi, tuôn chảy giữa kẽ ngón tay, lạnh lẽo và mềm mại, như thể tôi đang nhúng tay vào một dòng suối vô hình.
Mùi đất.
Mùi mưa.
Mùi lá mục.
Mùi đá ẩm.
Chúng ngấm sâu vào cơ thể tôi, nhuộm sự hoang dã lên tóc, lên da, vào phổi, vào tứ chi. Khoảnh khắc ấy, tôi không nghĩ gì nữa.
Không nghĩ về những câu hỏi của bố mẹ.
Không nghĩ về những tấm ảnh của bạn bè.
Không nghĩ về nỗi lo lắng.
Không nghĩ về sự ngờ vực.
Chỉ chăm chú đắm mình vào cảnh vật trên con đường vắt ngang núi cao, vào tiếng động cơ rệu rã, vào bầu trời nặng trĩu. Đầu tôi trống rỗng. Nhưng nó không giống sự trống rỗng đáng sợ của những đêm mất ngủ. Nó giống một căn phòng vừa được dọn hết đồ. Cửa sổ mở toang. Không khí mát lành chậm rãi tràn vào.

Đàn bướm nhỏ nhiều màu sắc chấp chới bên vệ đường. Chúng bay lên khi xe tôi tới gần, rồi lại đậu xuống phía sau. Mỗi cánh bướm sượt qua liền như kéo giữ lại một mẩu nỗi buồn trong lòng tôi. Đến khi mỏi rã rời, tôi dừng xe ở một khoảng đất trống dưới chân núi. Phía dưới là một thung lũng sâu thẳm, phủ kín sắc xanh dịu dàng của cỏ sau mưa. Xa hơn, vẫn là những dãy núi nối nhau cho đến khi tan vào mây. Không một mái nhà. Không một bóng người. Cảnh vật rộng lớn tới mức sự tồn tại của tôi trở nên vô cùng nhỏ bé. Tôi tựa lưng bên một tảng đá, nhìn nắng lờ mờ nhấp nháy trồi lên từ sau những bụi mây dần tản trên đỉnh núi.
Trong thành phố, cảm giác nhỏ bé khiến tôi sợ hãi. Nó khiến tôi nghĩ mình vô dụng, mờ nhạt. Nhưng giữa trập trùng núi núi mây mây, không hiểu sao cảm giác nhỏ bé ấy lại tựa sự thả lỏng. Nếu tôi nhỏ bé đến vậy, chắc hẳn những thiếu sót của tôi càng nhỏ bé hơn. Việc tôi chưa tìm được việc không khiến Trái Đất ngừng quay. Việc tôi đi chậm hơn những người bạn đồng trang lứa cũng chẳng khiến điều gì sụp đổ. Nỗi hoang mang trong tôi, dù lớn đến đâu, ở khoảnh khắc này, cũng không hơn gì một làn khói mỏng giữa bầu trời bao la.
Tôi nhắm mắt cảm nhận hơi ấm của nắng bẽn lẽn mơn man gò má và bờ vai.
Tôi là ai? Tôi phải làm gì? ...
Hàng vạn câu hỏi vẫn quanh quẩn ở đó. Nhưng lần này, tôi không còn cố ép mình tìm cho rõ câu trả lời nữa. Tôi mặc kệ để chúng hiện ra và để chúng lướt đi. Vài câu hỏi hiện lên, nhạt đi. Vài câu hỏi khác lập tức dồn dập thế chỗ, như mây trong ngày giông. Tối tăm và nặng trĩu. Nhưng cũng như mọi đám mây trên bầu trời, làm gì có đám mây nào ở lại mãi.

Tôi nghỉ chân khi gặp một quán nước nhỏ ven đường. Nắng đã xua gần hết mây đen, trả lại bầu trời trong xanh, quang đãng. Quán chỉ đặt ba chiếc bàn nhựa, một tủ kính bày biện bánh kẹo đơn sơ với một chiếc võng mắc tạm bợ giữa hai thân cây. Một chú mèo tam thể nằm cuộn trên ghế, mở hai mắt to tròn nhìn tôi một lúc rồi lại nhắm. Chủ quán là một người phụ nữ ngoài sáu mươi. Bà rót cho tôi một cốc nhân trần nóng, rồi hỏi tôi đi đâu một mình.
"Cháu không biết," tôi nói.
Bà đáp ngay.
"Không biết thì cứ đi thôi."
"Lỡ cháu lạc đường thì sao?" Tôi hỏi nửa đùa nửa thật.
Bà cười. Những nếp nhăn quanh mắt xô lại thành nhiều rãnh nhỏ.
"Đường trên đảo quanh co nhưng đều dẫn về thị trấn. Đi mệt thì nghỉ chân rồi đi tiếp. Không lạc được đâu."
Tôi cúi nhìn cốc trà. Một chú kiến đang bò quanh miệng cốc. Nó đi trọn một vòng, rồi đổi hướng.
Ngày cuối cùng ở Cát Bà, tôi dậy rất sớm. Biển nằm im ru dưới màn sương mỏng tang. Những hòn đảo đá vôi phủ rêu nhô lên khỏi mặt nước, như lưng đàn rùa khổng lồ còn đang mộng mị. Tôi ngồi trên bãi biển, hai tay ôm gối, nhìn những chiếc thuyền chậm rãi rẽ sóng mà đi.
Ngày mai tôi sẽ về nhà.