UNDERGROUND VÀ MAINSTREAM
UNDERGROUND VÀ MAINSTREAM
Trong khi nhiều nghệ sĩ sống chết với danh xưng underground, liệu họ có vẫn khao khát ánh hào quang và danh tiếng của mainstream?
RANH GIỚI GIỮA UNDERGROUND VÀ MAINSTREAM
Cả hai thuật ngữ “underground” và “mainstream” đều không sinh ra từ âm nhạc. "Underground" đến từ chiến tranh: nghĩa chỉ một dòng chảy sống trong xã hội, mượn từ tên gọi các mạng lưới kháng chiến Thế chiến II. Về sau, từ này được mượn để chỉ mọi hoạt động văn hóa, nghệ thuật mang tính chất độc lập, không chạy theo số đông hoặc không chịu sự kiểm soát của chính quyền hay sự chi phối của lợi ích.


Ngược lại, "main stream" là từ được sử dụng từ thế kỷ 16, mô tả dòng nước mạnh nhất, chính giữa và lớn nhất của một con sông, nơi các dòng nước nhỏ khác đổ vào hoặc chảy theo. Theo thời gian, người ta dùng hình ảnh này làm phép ẩn dụ cho dòng chảy tư tưởng, xu hướng văn hóa hoặc lối sống mà phần lớn người trong xã hội đều đi theo và công nhận. Đến thế kỷ 20, hai từ này được viết liền thành "mainstream" và hết sức phổ biến trong nghệ thuật, đặc biệt là âm nhạc, đối lập với các khái niệm như underground hay indie.


Nghệ sĩ underground và mainstream khác nhau ở ba điểm cơ bản: tệp khán giả, phong cách sáng tạo và mục đích hoạt động. Khán giả của giới underground thường là một nhóm nhỏ nhưng trung thành. Do ít chịu áp lực doanh thu từ công ty quản lý và ít bị ràng buộc, họ giữ được quyền quyết định gần như tuyệt đối với tác phẩm. Chính khoảng tự do đó sinh ra một dòng chảy nghệ thuật gai góc, kén chọn, đôi khi nổi loạn và cũng vì thế mà chân thật hơn.


Ở chiều ngược lại, nghệ sĩ “mainstream” làm việc với một tệp khán giả rộng và không đồng nhất, trải nhiều lứa tuổi và gu thẩm mỹ. Do nguồn thu phụ thuộc vào độ phủ, tác phẩm buộc phải tạo sức ảnh hưởng nhanh chóng, nên những nội dung quá đề cao tính cá nhân hoặc khác biệt thường bị tiết chế và cân nhắc trong khuôn khổ chuẩn mực chung. Quyền quyết định cho một sản phẩm sáng tạo không hoàn toàn nằm trong tay nghệ sĩ. Phía sau chúng là một ê-kíp truyền thông, một ngân sách và một quy trình sản xuất có công thức, tất cả nhằm giữ sản phẩm ở trong xu hướng đủ lâu để chuyển hoá thành hợp đồng quảng cáo và lợi nhuận lớn hơn.
CHẤP NIỆM VỀ UNDERGROUND
Trước hết cần nói rõ rằng không nghệ sĩ nào đáng bị chỉ trích dù lựa chọn của họ là underground hay mainstream, kể cả khi họ thay đổi định hướng nghệ thuật của mình - rời khỏi sân chơi underground. Đó là một quyết định nghề nghiệp bình thường. Điều đáng quan tâm nằm ở chỗ một số nghệ sĩ không còn underground, nhưng lại cố bám lấy danh xưng này.


Chắc hẳn lý do nằm ở chỗ underground tạo điều kiện cho hai thứ: một chỗ đứng và một lời biện hộ. Chỗ đứng thể hiện địa vị của một nghệ sĩ, bởi một nghệ sĩ có lẽ cần được công nhận hơn cả được trả tiền và đương nhiên, trong một cộng đồng nhỏ, các nghệ sĩ underground thường có được chỗ đứng vững vàng hơn trên sân chơi mainstream phức tạp, nhiều ràng buộc. Trong khi đó, lời biện hộ càng là một lí do tinh vi hơn: nếu tác phẩm không được đón nhận rộng rãi, thậm chí nhận về ý kiến trái chiều, nguyên nhân mặc định sẽ là vì nghệ sĩ không chịu thoả hiệp chứ không phải tác phẩm chưa đủ tốt. Thất bại thương mại nhờ vậy được bọc lót dưới lớp áo bào chữa - vì “niché”.


Ngoài ra, với những nghệ sĩ rời khỏi underground, sự quay lưng của một bộ phận khán giả cũ gần như là điều khó tránh khỏi. Cảm giác ấy thường được gọi tên là “sự phản bội” - dù thứ họ đánh mất đôi khi không hẳn là người nghệ sĩ hay những tác phẩm từng yêu thích, mà là vị thế đặc biệt của chính mình trong một cộng đồng nhỏ. Khi chỉ vài trăm người biết đến một cái tên, việc yêu thích nghệ sĩ ấy có thể trở thành một dấu hiệu của gu thẩm mỹ riêng, thậm chí là cách để phân biệt mình với số đông.
Nhưng khi cái tên đó bước ra mainstream và được công chúng rộng rãi đón nhận, cảm giác sở hữu một khám phá riêng tư cũng dần biến mất. Thứ từng khiến một người cảm thấy mình khác biệt bỗng trở thành thứ mà ai cũng có thể tiếp cận. Vì thế, cảm giác bị phản bội không phải lúc nào cũng bắt nguồn từ việc nghệ sĩ đã biến chất. Ở một khía cạnh khác, nó có thể xuất phát từ sự mất mát của chính khán giả: một phần bản sắc họ từng kiến tạo quanh việc yêu thích một nghệ sĩ không còn đủ “hiếm” và đủ “niché” để tiếp tục tạo ra sự khác biệt.
KHAO KHÁT TRỞ THÀNH MAINSTREAM
Tuy vậy, những chỉ trích gay gắt nhất với những nghệ sĩ rời khỏi underground thường đến từ chính những nghệ sĩ trong cộng đồng này. Phản ứng này không nhất thiết chỉ xuất phát từ khác biệt về thẩm mỹ hay nỗi lo chất “underground” bị biến đổi. Ở một mức độ nào đó, thành công của một người có thể làm lung lay chính triết lý mà những người còn lại vẫn vin vào để lý giải vị trí của mình.


Chừng nào tất cả vẫn cùng đứng ngoài mainstream, việc ở lại underground có thể được nhìn như một lựa chọn mang tính nguyên tắc: chúng ta không đứng dưới ánh đèn trên sân khấu vì không muốn thỏa hiệp, không muốn làm vừa lòng thị trường, không muốn đánh đổi tự do sáng tạo. Nhưng ngay khi một người trong cùng cộng đồng bước sang mainstream, đạt được thành công và vẫn phần nào giữ được ngôn ngữ sáng tạo của mình, thế cân bằng ấy bắt đầu thay đổi. Hiện tường này như một cái gai khó chịu: có lẽ mainstream không hoàn toàn đồng nghĩa với việc từ bỏ cái tôi nghệ thuật và tự do sáng tạo.



Đó là lúc cái nhãn “bán mình” trở nên hữu ích. Nó cho phép cộng đồng tái lập ranh giới đạo đức giữa “người không thoả hiệp” và “người thỏa hiệp”, thay vì phải đối diện với những yếu tố phức tạp hơn như cơ hội, năng lực tiếp cận thị trường, thời điểm, mạng lưới quan hệ hay đơn giản là mức độ thành công khác nhau. Bằng cách định nghĩa người rời underground là kẻ đã đánh đổi giá trị, những người ở lại có thể tiếp tục bảo toàn vị trí của chính mình.
UNDERGROUND HAY MAINSTREAM?
Cũng cần phân biệt rõ, có nhiều nghệ sĩ underground đúng nghĩa. Với họ, quy mô nhỏ là một điều kiện làm việc. Họ chủ động giữ một tệp khán giả kín, tự đặt ra thước đo thành công của công việc sáng tạo. Dù vậy, chỉ một số rất ít nghệ sĩ có thể theo đuổi underground toàn thời gian mà không sớm va phải giới hạn của chính nó: độ phủ nhỏ, tệp khán giả hẹp và nguồn lực hữu hạn.
Sự độc lập nghe hấp dẫn trên lý thuyết, nhưng sáng tạo chưa bao giờ là một hoạt động không cần tiền. Không gian, thiết bị, sản xuất, thời gian và cả những lần thử sai đều có giá của chúng. Khi sự công nhận, lợi nhuận và danh tiếng không còn là đích đến, một câu hỏi thực tế hơn xuất hiện: ai sẽ trả tiền để nghệ sĩ tiếp tục được làm nghệ thuật?


Ở lại underground vì thế có thể coi là một bài toán sinh tồn. Không ai có thể mãi lãng mạn hóa một sự nghiệp không đủ nuôi sống chính mình. Và ngay cả khi từ chối những thước đo phổ biến của thành công, nghệ sĩ vẫn cần một hệ quy chiếu nào đó để nhìn thấy được tác phẩm đang đi tới đâu, cộng đồng quanh mình lớn lên thế nào, hay liệu hành trình ấy có thực sự bền vững.


Bởi vậy, việc một nghệ sĩ bước từ underground lên mainstream không nhất thiết là khoảnh khắc họ “bán mình”. Đôi khi, đó chỉ là một cuộc mặc cả có tính toán: đổi một phần tự do tuyệt đối lấy tài chính ổn định hơn, khán giả rộng hơn và nhiều thời gian hơn để tiếp tục sáng tạo. Mainstream, trong trường hợp ấy, không phải điểm đối lập với bản chất của việc làm nghệ thuật. Nó có thể đơn giản là hạ tầng cần thiết để một đời sống nghệ thuật tồn tại lâu hơn.
Rốt cuộc, underground hay mainstream chỉ là hai vị trí trong cùng một dòng chảy. Điều đáng nói không phải nghệ sĩ đứng ở đâu, mà họ đã đánh đổi điều gì để đứng được ở đó. Bởi dù sự độc lập là một đặc quyền; thành công, lại là cơ hội để có thể tiếp tục cống hiến cho nghệ thuật lâu hơn.