CỦA NHỮNG KẺ SI TÌNH
CỦA NHỮNG KẺ SI TÌNH
Verona nổi tiếng nhờ vở kịch của Shakespeare về bi kịch tình yêu giữa chàng Romeo và nàng Juliet. Ít ai biết, thành phố này còn mang vẻ đẹp thơ mộng và chứa đựng nhiều điều thú vị.
THÀNH PHỐ TÌNH YÊU VERONA
Nằm cuộn mình trong đường cong của sông Adige, Verona là một thành phố vùng Veneto, miền Bắc nước Ý, mang hơn hai nghìn năm lịch sử từ thời La Mã, qua Trung cổ, đến Phục Hưng. Nhưng điều làm nên Verona, hơn cả bề dày lịch sử, là kiến trúc. Marmo rosso, loại đá hồng đặc trưng của xứ này, có mặt ở khắp nơi: trên các công trình cổ, những bậc thềm đã mòn vẹt, nơi vách nhà người bản địa, ngoài quảng trường và trên cây cầu bắc ngang sông.


Verona nổi tiếng nhờ một người chưa từng đặt chân tới đây. Shakespeare đặt bối cảnh hai vở kịch - Romeo và Juliet, Hai quý ông thành Verona - vào một thành phố ông chỉ biết qua sách vở. Ngay cả bi kịch tình yêu lớn nhất gắn liền với cái tên của Shakespeare cũng không hoàn toàn thuộc về ông. Câu chuyện về đôi tình nhân xấu số đã được Luigi da Porto neo vào Verona từ năm 1531. Hơn sáu mươi năm sau, khi đã qua tay nhiều nhà văn, nhà thơ, giai thoại ấy mới chạm tới ngòi bút của Shakespeare.


Làm nền một câu chuyện hư cấu, Verona vô tình trở thành biểu tượng của tình yêu bất diệt. Mỗi năm, hàng nghìn lá thư được gửi về một địa chỉ "Juliet, Verona." Người viết thư là những kẻ si tình ở khắp nơi trên thế giới. Và người dân Verona thật sự có các nhóm tình nguyện đọc từng lá thư rồi hồi âm bằng thư tay, ký tên Juliet.


Nét lãng mạn của Verona, hóa ra, không hẳn nằm ở kiến trúc đá hồng, cũng không nằm ở bi kịch tình yêu Shakespeare viết nên. Nó nằm ở chính cách người dân Verona xoa dịu trái tim của hàng vạn kẻ si tình tuyệt vọng đi tìm câu trả lời cho những nghi vấn của trái tim mình.
ĐIỂM ĐẾN NƠI ĐÂY
Ngôi nhà của nàng Juliet - Casa di Giulietta nằm tại số 23 Via Cappello - nơi được xem như trái tim của huyền thoại tình yêu tại Verona. Bước qua cánh cổng dẫn vào khoảng sân lát đá, người ta lập tức nhìn thấy chiếc ban công nhỏ nhô ra khỏi bức tường gạch cũ, bên dưới là bức tượng đồng của nàng Juliet. Tuy nhiên, đây vốn là một toà tháp thời Trung cổ, được ghi nhận từ năm 1351 và từng thuộc về gia đình Dal Cappello - cái tên có phát âm gần với Capuleti, dòng họ của Juliet trong câu chuyện. Từ thế kỷ XVIII, nơi đây dần được công chúng đồng nhất với ngôi nhà của gia đình Capulet và trở thành điểm hành hương thu hút của những người yêu văn chương.


Thành phố Verona mua lại công trình vào năm 1905. Trong đợt trùng tu từ năm 1939 đến 1940, chiếc ban công nổi tiếng đã được bổ sung từ những mảnh đá cẩm thạch có niên đại Trung cổ. Bức tượng Juliet mãi tới 1972 mới được hoàn thiện bởi nhà điêu khắc Nereo Costantini và được đặt trong khoảnh sân bên trong ngôi nhà. Dẫu được xây dựng từ lịch sử pha lẫn tưởng tượng, Casa di Giulietta vẫn có một sức hấp dẫn khó lý giải. Có lẽ những người tìm đến đây không thực sự quan tâm liệu Juliet từng tồn tại hay không. Họ đến bởi muốn tin rằng ở nơi này, sẽ có ai đó lắng nghe những lời yêu chưa kịp nói. Bởi vậy, tường nhà của nàng Juliet luôn phủ đầy lưu bút về tình yêu của ngàn vạn kẻ si tình ghé thăm từ khắp nơi trên thế giới.


Bên cạnh Casa di Giulietta, Arena di Verona - đấu trường La Mã từ thế kỷ I cũng là một điểm đến không thể bỏ qua. Đấu trường này dựng bằng chính loại đá hồng marmo rosso. Điều phi thường nhất nẳm ở chỗ nơi này chưa từng trở thành phế tích. Arena di Verona vẫn tiếp tục được sử dụng cho đến tận ngày nay.


Kế bên Arena di Verona, Piazza delle Erbe từng là quảng trường cổ của người La Mã, nay trở thành khu chợ sôi động giữa lòng phố cổ. Bao quanh quảng trường là những mặt tiền phủ bích họa đã phai, tựa hình xăm cũ trên làn da già nua, vẫn âm thầm lưu giữ ký ức từ thế kỷ XVI. Ở chính giữa, đài phun nước Madonna Verona đã đứng đó từ năm 1368, trong khi tháp Lamberti vươn cao tám mươi tư mét phía trên những mái ngói đỏ. Dưới vòm Arco della Costa, một chiếc xương sườn cá voi vẫn treo lơ lửng suốt nhiều thế kỷ, mang theo câu chuyện mà ngay cả người bản xứ hôm nay cũng không còn biết chắc.



Cách trung tâm quảng trường không xa, ta dễ dàng thấy được Ponte Pietra - cây cầu đá cổ nhất của thành phố. Người La Mã xây dựng cây cầu vắt ngang qua sông Adige từ trước Công nguyên. Năm 1945, cây cầu từng bị phá hủy gần như toàn bộ vì bom nổ trong Thế chiến II. Sau đó, người dân Verona mất tới 14 năm để khôi phục nguyên bản một cách tỉ mỉ cây cầu này bằng chính những vật liệu thu gom từ đống đổ nát.


Đi qua cây cầu Ponte Pietra và leo hết bậc thang lên đồi vào lúc chiều tà, từ Castel San Pietro, ta có thể thu hết cả thành phố Verona vào trong mắt với lớp lớp mái ngói đỏ trải dài, dòng Adige uốn cong, tiếng chuông nhà thờ đổ chồng lên nhau.


Cuối cùng, lâu đài Castelvecchio cùng cây cầu thành luỹ Ponte Scaligero là pháo đài quân sự hoành tráng nhất Verona được xây dựng từ thế kỷ XIV. Pháo đài gạch đỏ này thuộc tài sản của dòng họ Scaligeri, nổi bật với những lỗ châu mai hình đuôi én.


RƯỢU LIMONCELLO BẢN ĐỊA
Nói cho sòng phẳng, quê hương đích thực của limoncello nằm ở miền Nam nước Ý - vùng Sorrento, Amalfi và Capri, nơi những vườn chanh bám mình trên vách đá, lúc lỉu những quả vàng ươm, căng mọng, thường lớn gần bằng nắm tay.


Thế nhưng, chỉ cách Verona khoảng một giờ xe, quanh hồ Garda cũng đã trồng chanh từ thời Trung cổ. Trên những sườn dốc đổ nghiêng xuống mặt nước, người ta dựng nên các limonaia - những nhà chanh đặc trưng với hàng cột đá cao và hệ mái gỗ có thể che chắn cây vào mùa lạnh. Nhìn từ xa, chúng giống như những khung nhà bỏ ngỏ, xếp tầng trên triền núi.


Limoncello của vùng Garda vì thế cũng mang một sắc thái riêng. So với loại rượu đến từ miền Nam, nó thường thanh hơn, ít ngọt hơn, thoang thoảng hương chanh nhẹ và dư vị chát dịu sâu hơn. Người địa phương thường ưa dùng limoncello trong những chiếc ly thủy tinh được ướp lạnh, chậm rãi thưởng thức vào cuối bữa ăn sau món tráng miệng.


Rời Verona, người ta mang theo không chỉ dư sắc cổ kính của những công trình nhuốm màu thời gian hay dư vị limoncello còn vương nơi đầu lưỡi, mà còn cả dư âm về một đời sống tinh thần dịu dàng và những câu chuyện tình chưa bao giờ thôi khiến thành phố này trở nên thơ mộng.