THƯỚC ĐO ĐỊA VỊ
THƯỚC ĐO ĐỊA VỊ
Từ việc học thêm một văn bằng để làm đẹp hồ sơ đến cuộc đua lấy học vị thạc sĩ, tiến sĩ nhằm khẳng định vị thế, bằng cấp đang được đặt trước nhiều kỳ vọng ngoài mục tiêu học tập. Khi danh xưng trở thành thước đo năng lực và uy tín, câu hỏi đặt ra là chúng ta đang học để hiểu biết hơn hay để được xã hội nhìn nhận một cách khác đi?

TỪ NHU CẦU HỌC TẬP ĐẾN CUỘC ĐUA DANH HIỆU
Trong đời sống xã hội Việt Nam, bằng cấp từ lâu không chỉ gắn với quá trình học tập mà còn ảnh hưởng đến cách một người được nhìn nhận. Tấm bằng đại học có thể được xem là dấu mốc trưởng thành, bằng thạc sĩ hay tiến sĩ thường gắn với trình độ chuyên môn cao hơn. Nhưng bên cạnh giá trị thực chất, các văn bằng còn mang theo một ý nghĩa khác: khả năng tạo dựng uy tín và vị thế cho người sở hữu.
Điều này thể hiện rõ trong cách một số người lựa chọn học lên cao. Thay vì bắt đầu từ câu hỏi mình cần kiến thức gì cho công việc, họ có thể bắt đầu bằng việc mình còn thiếu văn bằng nào, cần học thêm ở đâu để hồ sơ đẹp hơn hoặc có thêm lợi thế khi được bổ nhiệm. Khi ấy, mục tiêu học tập dần chuyển từ nâng cao năng lực sang tích lũy danh hiệu.
Trong bài viết “Dịch bệnh sính bằng cấp” đăng trên Tuổi Trẻ ngày 17/2/2023, tác giả Hoàng Ngọc Vinh nhận xét rằng một bộ phận người học theo đuổi bằng thạc sĩ, tiến sĩ vì sĩ diện, xem bằng cấp như biểu tượng của vị trí xã hội và thước đo trí tuệ. Bài viết cũng đề cập đến hiện tượng tuyển sinh thạc sĩ tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cùng những lời quảng bá về cơ hội nâng hạng, nâng lương và tìm kiếm việc làm khi có thêm văn bằng.

Vấn đề không nằm ở việc một người muốn học thêm, mà ở lý do khiến họ theo đuổi con đường ấy. Một người làm nghiên cứu cần bằng tiến sĩ để phát triển chuyên môn là điều dễ hiểu. Một người đi làm học thạc sĩ để bổ sung kiến thức quản lý cũng có mục tiêu rõ ràng. Ngược lại, nếu người học không thực sự quan tâm đến nội dung đào tạo, không có nhu cầu nghiên cứu nhưng vẫn tìm mọi cách để sở hữu danh xưng, việc học có lẽ đã trở thành một cuộc đầu tư cho hình ảnh cá nhân.
Áp lực này không chỉ đến từ mong muốn của mỗi người. Gia đình có thể xem con cái học cao là niềm tự hào; môi trường làm việc có thể coi văn bằng là lợi thế; còn xã hội thường dành sự chú ý đặc biệt cho những người được giới thiệu bằng các chức danh như thạc sĩ, tiến sĩ, giáo sư. Khi những yếu tố ấy kết hợp, việc học lên cao dễ trở thành một cuộc đua ngầm, trong đó mỗi người cảm thấy mình cần thêm một chứng nhận để không bị tụt lại.
Bởi vậy, không phải ai học cao cũng sính bằng cấp, và cũng không thể kết luận mọi người sở hữu nhiều văn bằng đều chạy theo danh tiếng. Điều đáng bàn là khi giá trị của việc học bị thu hẹp vào tấm bằng cuối cùng, quá trình tích lũy kiến thức, rèn luyện tư duy và khả năng vận dụng vào thực tế có nguy cơ bị đẩy xuống hàng thứ yếu.
DANH XƯNG ĐƯỢC ĐẶT CAO HƠN NĂNG LỰC
Một trong những biểu hiện rõ ràng nhất của tâm lý sính bằng cấp là cách học vị được sử dụng để tạo uy tín trong giao tiếp và công việc. Khi giới thiệu một người tại hội nghị, cuộc họp hay trên truyền thông, chức danh đôi khi được nhấn mạnh trước cả những gì người đó đã làm. Người có học vị cao vì thế dễ nhận được sự chú ý và tin tưởng ngay từ đầu, ngay cả khi nội dung họ trình bày chưa được kiểm chứng.

Sự tôn trọng dành cho chuyên môn tất nhiên không phải điều vô lý. Một người đã dành nhiều năm nghiên cứu một lĩnh vực có thể sở hữu kiến thức sâu rộng hơn người không được đào tạo chuyên biệt. Tuy nhiên, bằng cấp chỉ có ý nghĩa trong phạm vi mà quá trình đào tạo và nghiên cứu của người đó thực sự chứng minh được. Học vị tiến sĩ trong một ngành không tự động khiến người sở hữu trở thành chuyên gia trong mọi vấn đề, cũng không bảo đảm mọi nhận định của họ đều chính xác.
Trong bài viết “Tiến sĩ hay ‘tiếng’ sĩ?” đăng trên VnExpress ngày 20/9/2026, nhà vũ trụ học Nguyễn Nhật Minh kể rằng sau khi có thêm danh xưng “TS.” trước tên mình, ông nhận thấy người khác đôi khi lắng nghe chăm chú hơn hoặc ngần ngại phản bác hơn. Tác giả cho rằng uy tín chuyên môn có thể giúp một ý kiến được chú ý, nhưng sự chú ý không đồng nghĩa với chân lý.
Nhận xét này khơi gợi ra một vấn đề rộng hơn rằng: khi danh xưng trở thành yếu tố quyết định mức độ tin cậy, người nghe có thể đánh giá phát biểu dựa trên người nói thay vì dựa trên lập luận và bằng chứng. Một ý kiến được đưa ra bởi người có học vị cao dễ được xem là đáng tin hơn, trong khi cùng nội dung ấy, nếu đến từ một người không có danh xưng tương tự, có thể không nhận được sự chú ý ngang bằng.
Ở chiều ngược lại, người sở hữu danh xưng cũng có thể chịu ảnh hưởng từ chính uy tín của mình. Khi đã quen với việc được giới thiệu bằng chức danh, được mời phát biểu và được người khác tìm đến xin lời khuyên, họ có thể dần đánh đồng sự kính trọng của xã hội với độ chính xác trong nhận định cá nhân.

Đáng lo ngại hơn, khi xã hội đặt quá nhiều kỳ vọng vào văn bằng, nhu cầu sở hữu danh hiệu có thể tạo điều kiện cho những con đường không trung thực. Tháng 11/2023, báo Thanh Niên đưa tin về trường hợp một người sử dụng bằng tiến sĩ giả, từng giảng dạy tại nhiều trường đại học, cao đẳng ở TP.HCM và suýt được bổ nhiệm làm trưởng khoa. Trường Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia TP.HCM xác nhận văn bằng tiến sĩ mang tên người này không có trong dữ liệu của trường.
Đến tháng 1/2026, Thanh Niên tiếp tục đưa tin Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 quyết định buộc thôi việc ông Đặng Ngọc Nam sau khi xác định ông sử dụng bằng tiến sĩ giả. Theo thông tin nhà trường cung cấp cho báo, ông Nam từng giữ vị trí trưởng bộ môn Ngôn ngữ và Văn hóa tại Khoa Tiếng Anh.
Đây là những trường hợp cụ thể cho thấy danh xưng học thuật có thể bị lợi dụng để tạo dựng uy tín và đạt được vị trí nghề nghiệp. Chúng không đại diện cho toàn bộ người có học vị cao, nhưng cho thấy hệ quả khi đơn vị tuyển dụng hoặc cộng đồng quá tin vào danh xưng mà chưa kiểm tra đầy đủ năng lực và văn bằng của người sở hữu.
HỌC ĐỂ BIẾT HAY HỌC ĐỂ ĐƯỢC CÔNG NHẬN?
Đằng sau cuộc đua bằng cấp là câu hỏi về cách xã hội đánh giá năng lực. Trong tuyển dụng, bằng cấp giúp nhà tuyển dụng đánh giá trình độ học vấn của ứng viên. Tuy nhiên, nếu quá coi trọng bằng cấp, người lao động có thể mải học thêm để làm đẹp hồ sơ mà ít chú trọng phát triển những kỹ năng cần thiết cho công việc.
Chẳng hạn, một nhân viên có thể dành nhiều thời gian học thêm một chương trình sau đại học, trong khi công việc hằng ngày lại đòi hỏi khả năng giải quyết vấn đề, giao tiếp, quản lý dự án hoặc kinh nghiệm thực tế. Việc học vẫn có giá trị nếu giúp họ phát triển những năng lực đó. Nhưng nếu mục tiêu chủ yếu là bổ sung một dòng vào hồ sơ, lợi ích thu được có thể không tương xứng với thời gian và chi phí bỏ ra.

Ở cấp độ đào tạo, tâm lý sính bằng cấp còn tạo ra sức ép đối với các cơ sở giáo dục. Khi người học quan tâm đến tấm bằng nhiều hơn chất lượng chương trình, hoạt động đào tạo có nguy cơ bị xem như một dịch vụ cung cấp chứng nhận. Trong bài viết trên Tuổi Trẻ năm 2023, Hoàng Ngọc Vinh cảnh báo rằng việc chạy theo bằng cấp khi nguồn lực và công tác quản lý chất lượng chưa đáp ứng yêu cầu có thể dẫn đến lãng phí, nghiên cứu thiếu tính nguyên bản và làm suy giảm niềm tin vào hệ thống giáo dục.
Để hạn chế tình trạng chạy đua danh hiệu, trách nhiệm không thể chỉ đặt lên người học. Các cơ sở đào tạo cần bảo đảm chất lượng đầu vào, quá trình nghiên cứu và đánh giá đầu ra. Cơ quan tuyển dụng cần xác minh văn bằng, đồng thời xem xét năng lực thực tế thay vì mặc nhiên coi học vị cao là bảo chứng cho hiệu quả công việc. Những vị trí đòi hỏi chuyên môn sâu vẫn cần tiêu chuẩn học vấn phù hợp, nhưng tiêu chuẩn ấy phải xuất phát từ yêu cầu thực tế của công việc.
Về phía mỗi cá nhân, điều quan trọng là xác định rõ mình học để làm gì. Học lên cao có thể mở ra cơ hội nghề nghiệp, giúp người học tiếp cận kiến thức mới và đóng góp cho lĩnh vực chuyên môn. Nhưng nếu chỉ học vì sợ bị đánh giá thấp, muốn được gọi bằng một danh xưng đáng trọng hơn hoặc không muốn thua kém người xung quanh, việc học rất dễ trở thành cuộc chạy đua không có điểm dừng.
Một tấm bằng có thể xác nhận người sở hữu đã hoàn thành những yêu cầu nhất định của một chương trình đào tạo. Nó không thể thay thế kinh nghiệm, khả năng tư duy, sự trung thực hay chất lượng công việc mà người đó tạo ra. Bởi vậy, thay vì hỏi một người có bao nhiêu bằng cấp, có lẽ cần hỏi họ đã học được gì, có thể làm được gì và những kiến thức ấy được sử dụng như thế nào.
Khi xã hội thôi xem văn bằng là thước đo duy nhất của trí tuệ và địa vị, việc học mới có cơ hội trở về với mục tiêu quan trọng nhất: giúp con người hiểu biết hơn, làm việc tốt hơn và tạo ra những giá trị có ích cho cộng đồng.