CÁI ĐẸP MONG MANH CỦA
LỌNG BƯỚM
CÁI ĐẸP MONG MANH CỦA LỌNG BƯỚM
Lọng bướm - một di vật thẩm mỹ của thời Nguyễn mang vẻ đẹp mong manh tựa cánh bướm không chỉ là vật dụng truyền thống để che nắng, mà còn hiện diện như một vật trang trí, một lời chúc tụng, một biểu tượng gửi gắm ước vọng về trường thọ, bình an và phúc lành trong đời sống người Việt xưa.
NGUỒN GỐC CỦA NHỮNG CHIẾC LỌNG
Từ điểm nhìn lịch sử rộng hơn, chiếc dù hay lọng không phải là phát minh riêng của một nền văn hóa duy nhất. Nhiều tư liệu lịch sử về umbrella (ô che mưa) hay parasol (lọng che nắng) đều cho thấy loại vật dụng này đã xuất hiện rất sớm ở khu vực Trung Đông và Tây Á cổ đại. Từ ấy, dù và lọng dần phân nhánh, phát triển rồi tiếp tục biến đổi trong từng khu vực, từng triều đại, theo từng phong tục khác nhau. Chính vì vậy, lịch sử của lọng vô cùng phong phú với nhiều dị bản và lọng bướm như một biến thể mang dấu ấn Việt Nam.


Ở Việt Nam, một số tư liệu dân gian và báo chí đương đại cho rằng nghề làm lọng bắt đầu từ thời Lê - Mạc (khoảng năm 1500), sau đó phát triển mạnh hơn trong thời Lê Trung Hưng và thẩm thấu vào đời sống cung đình lẫn dân gian. Tên gọi phố Hàng Lọng ở Hà Nội vốn xuất phát từ việc cư dân khu vực này làm và bán kiệu, ô, lọng cho quan lại và đình chùa; nơi đây từng có đền thờ ông tổ nghề lọng - thêu là Lê Công Hành.
Dù các truyền thuyết nghề cần được đọc với sự thận trọng của người làm sử, chừng ấy dữ kiện cũng cho thấy lọng không phải một thứ ngoại vật đứng bên lề đời sống Việt, mà đã ngấm vào lối sống của người bản địa từ rất sớm. Riêng lọng bướm, tư liệu hiện còn khá thưa. Các nguồn báo chí gần đây về phục dựng di sản này đều cho rằng lọng bướm xuất hiện từ thời Nguyễn; tới đầu thế kỷ 20, hình ảnh của nó được ghi nhận trong Technique du peuple Annamite của Henri Oger, bộ sách thực hiện giai đoạn 1908-1909 về đời sống vật chất và kỹ nghệ của người An Nam.

Nhìn từ góc độ văn hóa, lọng bướm là một lát cắt tinh tế trong mỹ cảm của người Việt, đặc biệt trong bối cảnh thẩm mỹ thời Nguyễn. Lịch sử của nó cũng có thể được đọc như hành trình dịch chuyển từ công năng sang biểu tượng. Được tạo tác từ khung tre và giấy dó, lọng bướm mang một cấu trúc mảnh mai, thanh nhẹ đến mức khó có thể xem là vật dụng lý tưởng để cản gió, chắn mưa. Nhưng chính sự mong manh ấy lại mở ra cho nó một đời sống khác: khi không còn bị ràng buộc hoàn toàn bởi chức năng che chắn, chiếc lọng được nâng lên thành một biểu tượng của cái đẹp, hiện diện trong những không gian trang trọng như đồ nội thất, vật treo trang trí, hay một dấu hiệu cát tường trong các gia đình khá giả.


Một số nghiên cứu phục dựng ngày nay còn cho thấy lọng bướm mang ý nghĩa chúc tụng, gắn với ước vọng về trường thọ, may mắn và bình an. Có lẽ cũng vì thế, giá trị của lọng bướm chưa bao giờ nằm ở độ bền vật chất, mà ở tầng ý nghĩa văn hóa và biểu tượng mà nó chuyên chở trong đời sống người Việt xưa.
VẺ ĐẸP RIÊNG BIỆT
Xét về phương diện kỹ thuật, lọng giấy là một loại vật dụng hiện diện rộng khắp trong không gian văn hóa Sinosphere và Indosphere, vì thế khó có thể giản lược lịch sử của nó thành một nguồn gốc duy nhất từ Trung Quốc. Nhiều vùng cùng chia sẻ một nền tảng vật liệu và cấu trúc tương đồng: khung tre vót mảnh, hệ nan dày đặc, bề mặt phủ giấy, sau đó quét nhựa cây hoặc một lớp chống thấm để tăng độ bền. Đó là phần “đại đồng” của một truyền thống thủ công kéo dài qua nhiều thời đại và nhiều khu vực. Nhưng chính ở phần “tiểu dị” - những khác biệt tưởng nhỏ mà bền bỉ - bản sắc thẩm mỹ của từng nền văn hóa mới hiện lên rõ nhất.



Trong số ấy, lọng bướm Việt Nam là một biến thể đặc biệt. Nếu ô giấy dầu Trung Hoa thường để lại ấn tượng bởi vẻ lấp lánh, hiệu ứng thấu sáng và nghệ thuật trang trí ngoại diện, thì lọng bướm Việt Nam lại chạm đến người xem bằng một vẻ đẹp khiêm nhường hơn. Ô giấy dầu Trung Hoa truyền thống thường được làm từ giấy xuyến quét dầu, vừa tăng khả năng chống nước vừa tạo hiệu ứng ánh sáng xuyên qua mặt giấy. Bên cạnh đó, các loại dù cắt hình của Trung Quốc cũng thiên về các dạng hình học, diềm trang trí cầu kỳ hoặc những bức thủy mặc trải trên mặt trên của tán dù.


Ngược lại, vẻ đẹp của lọng bướm Việt Nam nằm nhiều hơn ở tạo hình toàn thể. Nó không chỉ là một chiếc lọng được vẽ họa tiết bướm, mà bản thân chiếc lọng đã được tạo tác để gợi nên dáng hình của một sinh thể sống động. Không chỉ khác ở cấu trúc tạo hình, lọng bướm còn khác ở cách xử lý bề mặt: được tô vẽ cả hai mặt, mặt ngoài thường tiết chế với một gam màu chủ đạo, trong khi mặt trong được tô đen và điểm thêm những hình bướm hay các họa tiết giản lược nhưng giàu chủ ý. Cái đẹp vì thế không dồn vào phía người đối diện nhìn thấy trước tiên, mà nằm ở phía người cầm, người đứng dưới, người thực sự bước vào không gian riêng của vật.


Đó cũng là nơi lọng bướm bộc lộ một triết lý rất Việt về vẻ đẹp không nhất thiết phô trương bên ngoài mà được giữ lại cho phần bên trong. Có lẽ cũng vì mang trong mình tinh thần ấy mà lọng bướm, sau một thời gian dài gần như biến mất, vẫn có thể trở lại trong đời sống hôm nay. Qua bàn tay của những người trẻ yêu truyền thống, từ họa tiết bướm đến hoa lá, côn trùng hay các biểu tượng mới, lọng bướm tiếp tục được làm mới mà không đánh mất linh hồn cũ. Di sản, vì thế, không chỉ là thứ để lưu giữ, mà là thứ có thể tiếp tục sống, tiếp tục biến hóa, tiếp tục đồng hành cùng hiện tại.

Nhìn chung, lọng bướm vì thế không chỉ là một vật dụng đẹp của quá khứ, mà còn là dấu vết của một quan niệm thẩm mỹ rất Việt về cái đẹp nội liễm. Mỏng manh nhưng sâu dày trong ý nghĩa, chiếc lọng đã đi qua thời gian như một biểu tượng của sự tinh tế, của ước vọng bình an và của một lối sống biết nâng niu những gì chậm rãi, thủ công và giàu chiều sâu.